Video Clip

Liên Kết

Liên hệ

180/1E Lạc Long Quân - Phường 10 - Quận 11 – TP.HCM
Hotline: 0903.819.020


Quảng cáo

Thứ hai, 18 Tháng 5 2020

Phản ứng chính sách để chặn đà sụp đổ của doanh nghiệp

Viết bởi : 
Chuyên mục : Trao đổi kinh nghiệm
Lượt xem : 26

(TBKTSG) - Đại dịch và khủng hoảng y tế không được kiểm soát đã châm ngòi cho khủng hoảng kinh tế ở nhiều nơi trên thế giới. Đến lượt mình, khủng hoảng kinh tế nếu không được kiểm soát sẽ dẫn tới khủng hoảng tài chính và/hoặc khủng hoảng nợ.

Thách thức đối với các quốc gia là làm thế nào ngăn chặn được đà đang lên của các cuộc khủng hoảng trước mắt một cách hiệu quả, đồng thời hạn chế di hại đắt giá trong tương lai.

Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế thế giới. Ảnh: Shutterstock

Sức tàn phá và hệ lụy của dịch Covid-19 ở các quốc gia chịu tác động cũng như đối với nền kinh tế thế giới là đặc biệt nghiêm trọng, đến mức không một đại dịch cận đại nào có thể so sánh được. Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất, dịch Covid-19 phát tán mạnh nhất tại 10 nền kinh tế lớn nhất: Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Anh, Pháp, Ấn Độ, Ý, Brazil, Canada.

Thứ hai, dịch Covid-19 bùng nổ đúng vào giai đoạn dễ bị tổn thương của chu kỳ kinh tế toàn cầu: Tăng trưởng toàn cầu năm 2019 chỉ ở mức 2,9% - thấp nhất kể từ cuộc khủng hoảng 2008-2009.

Thứ ba, phạm vi lây nhiễm của dịch Covid-19 đã bao phủ toàn thế giới. Sự dịch chuyển tâm dịch hết đợt này đến đợt khác khiến kinh tế toàn cầu liên tục ở trạng thái “đóng cửa” từng phần và hết sức bấp bênh.

Thứ tư, nền kinh tế thế giới đang có tính kết nối và toàn cầu hơn bao giờ hết. Khi khủng hoảng y tế ập đến buộc các quốc gia phải đóng cửa từng phần hoặc toàn phần, các dòng lưu chuyển về con người, vốn đầu tư (trực tiếp và gián tiếp), nguyên vật liệu sản xuất và hàng hóa bị đứt gãy.

Thứ năm, tính dễ bị tổn thương của nền kinh tế toàn cầu không chỉ thể hiện ở các chỉ số tăng trưởng, mà quan trọng hơn, nằm ở những vấn đề có tính cơ cấu của các nền kinh tế lớn. Mỹ, Nhật, Anh và nhiều nước G20 đang thâm hụt ngân sách nặng nề và nợ công đã ở mức rất cao.

Hệ quả là chính phủ có rất ít dư địa để can thiệp về tài khóa và tiền tệ nhằm kích thích nền kinh tế khi đại dịch toàn cầu hoành hành.

Thứ sáu, để khắc phục suy thoái toàn cầu buộc phải có những giải pháp toàn cầu. Nhưng hiện nay, thế giới lại đang xung đột và chia rẽ sâu sắc, tình trạng mà một số nhà quan sát dự báo sẽ trở thành “chiến tranh lạnh mới” với sự mâu thuẫn về lợi ích chiến lược cốt lõi giữa Mỹ với Trung Quốc và Nga. Ở châu Âu, nước Anh đã ra khỏi Liên minh châu Âu (EU) và làm trầm trọng thêm sự chia rẽ của khối này...

Tóm lại, kinh tế thế giới sẽ suy thoái trong năm 2020. Mức độ và thời gian suy thoái phụ thuộc vào hiệu lực và tốc độ phản ứng của từng quốc gia cũng như sự phối hợp ứng phó toàn cầu. Yêu cầu chính sách cấp bách hiện nay là phải phản ứng nhanh nhất và hiệu lực nhất với tất cả nguồn lực để ngăn chặn khủng hoảng y tế trở thành khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tài chính.

Để có thể ứng phó một cách hiệu quả trước suy thoái kinh tế toàn cầu, chúng ta cần thấu hiểu các đặc điểm quan trọng có liên quan của nền kinh tế Việt Nam.

Các đặc điểm bất lợi của nền kinh tế Việt Nam bao gồm:

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhu cầu từ bên ngoài và năng lực xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) khiến nền kinh tế của Việt Nam dễ bị tổn thương trước khủng hoảng toàn cầu. Tính tổng cộng, trên 50% trong cơ cấu GDP của Việt Nam hiện nay bị phơi nhiễm nặng trước đại dịch và khủng hoảng kinh tế.

Thứ hai, Việt Nam thuộc nhóm có độ mở thương mại lớn nhất thế giới. Tất cả các thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam đều chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch bệnh và đều đã và đang đóng cửa từng phần.

Thứ ba, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ đầu tư FDI trên đầu người cao nhất thế giới. Do khủng hoảng toàn cầu, chắc chắn dòng vốn FDI sẽ chậm lại, nhiều dự án FDI hiện hữu sẽ giảm công suất, thậm chí dừng hoạt động. Đóng góp về việc làm, sản xuất công nghiệp, xuất khẩu, nộp thuế, GDP của khu vực FDI sẽ suy giảm mạnh.

Thứ tư, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam kém phát triển, vì vậy để xuất khẩu phải nhập khẩu rất nhiều. Khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị đình trệ và gián đoạn, nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam (cả nội địa và nước ngoài) sẽ không đủ nguyên vật liệu để sản xuất, dẫn đến nguy cơ giảm mạnh công suất và sa thải lao động.

Thứ năm, du lịch và các dịch vụ liên đới (khách sạn, nhà hàng, vận tải...) đang có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong nền kinh tế (khoảng 10% GDP) có lẽ là lĩnh vực chịu tác động trực tiếp nặng nề nhất của đại dịch.

Các đặc điểm thuận lợi của nền kinh tế Việt Nam bao gồm:

Thứ nhất, nền kinh tế Việt Nam trong ba năm trở lại đây tăng trưởng tương đối tốt, tỷ lệ nợ công giảm, tỷ giá ổn định, lạm phát thấp.

Thứ hai, tỷ lệ nợ công đã giảm xuống chỉ còn 56,1% GDP, hơn nữa lợi suất trái phiếu chính phủ cũng đang tương đối thấp. Những điều này tạo ra dư địa cần thiết cho sự can thiệp của chính sách tài khóa - là chính sách vĩ mô có hiệu lực nhất và phù hợp nhất với đặc tính của cuộc khủng hoảng kinh tế thực lần này.

Thứ ba, khác với hầu hết các nước đã phát triển, mặt bằng lãi suất của Việt Nam cao nên chính sách tiền tệ vẫn còn dư địa để cắt lãi suất. Tuy nhiên, như trên đã nói, vì đây là khủng hoảng kinh tế thực chứ không phải khủng hoảng tài chính nên giảm lãi suất không có nhiều tác dụng trong việc kích thích kinh tế, vì vậy không thể coi là công cụ chính sách chủ yếu.

Nhờ nỗ lực chống dịch quyết liệt ngay từ những ngày đầu tiên, đến nay tình hình dịch bệnh ở Việt Nam vẫn đang trong tầm kiểm soát. Tuy nhiên, ngay cả trong điều kiện này thì chúng ta cũng đang trải qua ba cú sốc cơ bản:

- Cú sốc về y tế: Số ca nhiễm tăng, số lượng cách ly lớn, trường học phải đóng cửa, đóng cửa biên giới và hạn chế đi lại...

- Cú sốc về kinh tế: Bao gồm cú sốc bên cầu (nhu cầu tiêu dùng, đặc biệt là dịch vụ và các sản phẩm lâu bền, giảm sút...) và cú sốc bên cung (chuỗi cung ứng bị đình trệ và gián đoạn, dự trữ nguyên liệu không đủ để duy trì công suất, lao động nhiễm dịch, bị cách ly và nghỉ việc...).

- Cú sốc về kỳ vọng: Khi tình hình thế giới ngày một xấu đi, người dân và doanh nghiệp bi quan về triển vọng tương lai, vì vậy điều chỉnh tiêu dùng, sản xuất và đầu tư một cách tương ứng. Nếu tình tình đủ xấu, tâm lý bi quan còn có thể dẫn tới đổ vỡ dây chuyền của các doanh nghiệp hay rút tiền ồ ạt từ các ngân hàng của người dân.

Đối diện với những cú sốc này, Chính phủ cần rất minh bạch và kiên định về các nguyên tắc can thiệp của mình. Cụ thể là:

Thứ nhất, can thiệp có mục tiêu, không can thiệp đại trà. Điều này cũng có nghĩa là can thiệp có ưu tiên, tùy theo mức độ quan trọng và bị ảnh hưởng và có tính chọn lọc, tập trung vào một danh sách ngắn chính sách có hiệu lực

Thứ hai, can thiệp phải kịp thời, vì tình thế hiện nay có tính cấp cứu, nếu hỗ trợ đến chậm thì doanh nghiệp sẽ hết sức khó khăn, thậm chí phá sản.

Thứ ba, dựa vào và thuận theo quy luật thị trường bất kỳ khi nào có thể để tránh làm biến dạng thị trường và tạo ra tiền lệ không tốt về sau.

Thứ tư, các chính sách cấp cứu có tính tình thế cần có thời hiệu rõ ràng, căn cứ vào diễn biến dịch bệnh.

Với sự diễn biến khôn lường của đại dịch cũng như hậu quả bất định của nó, không ai trong chúng ta có thể khẳng định tuyệt đối về bất kỳ điều gì. Ý tưởng chính ở đây là, vì chính sách được hình thành và thực thi trong môi trường hết sức bất định nên chúng ta buộc phải chấp nhận sự khiếm khuyết và chưa toàn hảo.

Nói cách khác, chúng ta có thể phải từ bỏ “cái tốt nhất” (first best) và chấp nhận “cái tốt nhì” (second best) - là những chính sách tuy không tối ưu trong điều kiện bình thường, song lại phù hợp và khả thi nhất trong điều kiện bất thường của dịch bệnh.

Đứng trước tình trạng suy giảm kinh tế nghiêm trọng, sự đúng đắn của chính sách và tốc độ can thiệp đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn đà sụp đổ của doanh nghiệp.

Định hướng chính sách sẽ chuyển từ quản lý khủng hoảng sang kích thích kinh tế vĩ mô.

Mục tiêu ưu tiên của Chính phủ trong giai đoạn này là phục hồi đà tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế thích ứng với tình hình mới.

Hệ thống tổng thể chính sách hỗ trợ nền kinh tế bao gồm các cấu phần như sau:

- Chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm tài khóa, tiền tệ, đầu tư và thương mại: Đây là những chính sách tổng thể, tác động một cách rộng khắp đến toàn bộ nền kinh tế.

- Chính sách mục tiêu hướng đến người dân (người tiêu dùng), người lao động và người sản xuất (doanh nghiệp).

- Chính sách mục tiêu hướng đến các ngành chịu ảnh hưởng nhiều nhất của đại dịch.

- Chính sách mục tiêu hướng đến các loại hình/quy mô doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều nhất của đại dịch.

- Chính sách mục tiêu hướng đến các địa phương phải nỗ lực và dành nguồn lực nhiều nhất trong việc ngăn chặn đại dịch (số lượng người phải cách ly, nhiễm virus và chữa trị; là tuyến đầu, tuyến trung ương trong ngăn chặn dịch...).

Định hướng chính sách vĩ mô trong giai đoạn thế giới còn dịch như sau:

Trong giai đoạn này, ở Việt Nam, tình hình dịch bệnh đã được kiểm soát và nhờ đó từng bước khôi phục hoạt động kinh tế. Tuy nhiên, do thế giới - đặc biệt là các nền kinh tế lớn - vẫn còn dịch nên hoạt động kinh tế quốc tế vẫn bị gián đoạn.

Ưu tiên của chính sách trong giai đoạn này là triển khai các biện pháp y tế công cộng để tiếp tục kiểm soát dịch bệnh. Đồng thời, chính sách kinh tế phải đồng hành với các biện pháp y tế công cộng này, giúp cho việc chống dịch khả thi về mặt tài chính (có đủ nguồn lực để thực hiện các biện pháp chống dịch) và được xã hội chấp nhận (nhờ hỗ trợ kịp thời các đối tượng bị tổn thương).

Cụ thể các chính sách cần thiết trong giai đoạn này cần tập trung vào:

- Tăng đầu tư và chi tiêu cho hệ thống y tế công cộng để cải thiện khả năng đáp ứng của hệ thống y tế, đảm bảo điều trị kịp thời các bệnh nhân nguy kịch cũng như để thực hiện các hoạt động phòng dịch và chữa các bệnh khác.

- Nhanh chóng hỗ trợ các hộ gia đình nghèo, dễ bị tổn thương để giảm thiểu khó khăn tài chính của họ, từ đó tạo sự đồng thuận trong xã hội để phòng chống dịch.

- Hỗ trợ cho các ngành sản xuất và các khu vực doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề thông qua các biện pháp tài khóa và tiền tệ.

Định hướng chính sách vĩ mô trong giai đoạn hậu Covid-19:

Định hướng chính sách sẽ chuyển từ quản lý khủng hoảng sang kích thích kinh tế vĩ mô. Mục tiêu ưu tiên của Chính phủ trong giai đoạn này là phục hồi đà tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế thích ứng với tình hình mới. Để thực hiện mục tiêu này chính sách cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Khuyến khích cầu của khu vực ngoài Nhà nước (tiêu dùng, đầu tư trong và ngoài nước). Đối với mục tiêu này, chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng, trong khi chính sách tài khóa cần giảm mức nới lỏng so với giai đoạn trước (trong khi vẫn phải đảm bảo tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công).

- Thúc đẩy doanh nghiệp phục hồi nhanh hoạt động sản xuất, kinh doanh.

- Ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường thuận lợi cho phục hồi đà tăng trưởng.

- Khởi động chương trình cơ cấu lại nền kinh tế thích ứng với tình hình mới sau đại dịch, bao gồm cả việc cải cách thể chế mạnh mẽ.

Vũ Thành Tự Anh

Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright.

https://www.thesaigontimes.vn

Joomla Templates - by Joomlage.com